Nghiên cứu đề xuất áp dụng thuế các-bon tại Việt Nam trong bối cảnh mới

Bối cảnh mới và sự cần thiết thực hiện nghiên cứu đề xuất thuế các-bon

Định giá các-bon là biện pháp để đảm bảo nguyên tắc người gây phát thải khí nhà kính phải chi trả cho các tác động tiêu cực mà việc phát thải đó gây ra cho môi trường và xã hội. Hai loại hình phổ biến của định giá các-bon là thuế các-bon và hệ thống giao dịch hạn ngạch phát thải khí nhà kính. Thuế các-bon quy định giá các-bon cố định, trong khi hệ thống giao dịch hạn ngạch chỉ kiểm soát mức phát thải còn giá các-bon thì không cố định mà phụ thuộc vào cung -cầu trên thị trường.

Định giá các-bon ngày càng được áp dụng phổ biến trên thế giới. Để đảm bảo các sản phẩm nhập khẩu vào Châu Âu cũng phải cũng phải chịu cùng mức định giá các-bon như các nhà sản xuất trong Châu Âu, từ ngày 1/10/2023, Cơ chế điều chỉnh biên giới các-bon (CBAM) của Châu Âu sẽ chính thức có hiệu lực với các yêu cầu về khai báo phát thải của sản phẩm nhập khẩu. Từ năm 2026 trở đi, các mặt hàng của Việt Nam xuất khẩu sang Châu Âu sẽ phải chịu mức giá mua chứng chỉ CBAM theo lộ trình tăng dần đến năm 2034 sẽ bằng với giá hạn ngạch giao dịch trên thị trường hạn ngạch phát thải của Châu Âu.

Giá mua chứng chỉ CBAM của Châu Âu sẽ được trừ đi giá các-bon đã được áp dụng tại nước xuất khẩu. Do vậy, áp dụng định giá các-bon sẽ giúp Việt Nam có thể giữ lại một phần nguồn thu, thay vì trả toàn bộ giá các-bon cho Châu Âu.

Theo Luật Bảo vệ môi trường 2020 và Nghị định 06/2022/NĐ-CP ngày 07 tháng 1 năm 2022 của Chính phủ, thị trường các-bon trong nước của Việt Nam dựa trên hệ thống giao dịch hạn ngạch và tín chỉ các-bon sẽ được thí điểm từ năm 2025 và chính thức vận hành trong năm 2028. Với hệ thống này, thời điểm áp dụng giá các-bon tại Việt Nam có thể trễ 2 năm so với thời điểm bắt đầu áp dụng yêu cầu thanh toán cho CBAM, và khó có thể xác định được nguồn thu có thể giữ lại cho Việt Nam do giá các-bon trên thị trường sẽ không cố định.

Do vậy, việc nghiên cứu và đề xuất thuế các-bon tại thời điểm này là cần thiết để giảm tác động của CBAM, giữ lại nguồn thu trong nước nhằm thúc đẩy chuyển dịch năng lượng, phát thải các-bon thấp, và hướng tới phát thải ròng bằng 0 ở Việt Nam. Nghiên cứu này đã được Công ty Kiến tạo Khí hậu xanh thực hiện trong khuôn khổ hỗ trợ kỹ thuật do Chương trình Đối tác Chuyển dịch Năng lượng Đông Nam Á (ETP) thực hiện phối hợp với Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Kinh nghiệm quốc tế liên quan đến thuế các-bon

Nhiều nước trên thế giới có trình độ phát triển tương tự như Việt Nam đã áp dụng thuế các-bon từ sớm. Năm 2014, Mexico là nước đang phát triển đầu tiên áp dụng thuế các-bon trong bối cảnh cải cách thuế mở rộng. Hiện nay, nước này cũng vận hành cả thuế các-bon và hệ thống giao dịch hạn ngạch phát thải trong nước. Thuế suất hiện nay là 3,5 USD/tCO2tđ đối với tất cả các nhiên liệu hóa thạch, trừ khí tự nhiên, trong đó xăng và dầu diesel đang tạm thời được miễn trừ trong giai đoạn từ tháng 3/2022 đến tháng 12/2024 do tác động của Covid-19. Hơn 3 tỷ USD đã thu được trong giai đoạn 2014-2022 từ việc đánh thuế này.

Colombia đã áp dụng thuế các-bon ở mức 4.4 USD/tCO2tđ từ năm 2016, trong đó than đá và LPG được miễn trừ đến năm 2028. Tổng cộng 527 triệu USD đã thu được từ khi áp dụng thuế từ tháng 1/2017 đến tháng 4/2023. 80% khoản thu này được sử dụng để hỗ trợ các biện pháp bảo vệ môi trường và 20% được đóng góp cho Quỹ Hòa bình của Colombia.

Nam Phi bắt đầu áp dụng thuế các-bon đối với các ngành công nghiệp từ năm 2019 với thuế suất 8 USD/tCO2tđ áp dụng với một lượng phát thải nhỏ, dự kiến trong tương lai sẽ tăng đến 80% toàn bộ phát thải quốc gia. 70 triệu USD đã được thu về từ việc đóng thuế trong giai đoạn 2021-2022 vừa qua.

Trong khu vực Đông Nam Á, Singapore đang áp thuế các-bon 3.7 USD/tCO2tđ đối với các cơ sở phát thải từ 25.000 tCO2tđ/năm trở lên từ năm 2019, có miễn trừ cho các công ty xuất khẩu. Thuế này đã bao phủ 80% phát thải của cả nước và giúp thu về 0.3 tỷ USD trong các năm 2021 và 2022. Thuế này dự kiến sẽ tăng đến 18.9 USD vào năm 2024 và 33.9 USD vào năm 2026.

Indonesia dự kiến áp dụng thuế các-bon ở mức 2 USD/tCO2tđ là giá sàn của hệ thống giao dịch phát thải đối với các nhà máy nhiệt điện không đáp ứng hạn mức phát thải. Thái Lan cũng đang dự kiến áp dụng thuế các-bon để thúc đẩy các giải pháp bảo vệ môi trường và tăng cường định giá các-bon trong nước nhằm giảm tác động do CBAM của Châu Âu.  

Kết quả rà soát chính sách liên quan trong nước

Hiện nay Việt Nam đang áp dụng Thuế Bảo vệ môi trường đối với các hàng hóa khác nhau, trong đó bao gồm các loại nhiên liệu hóa thạch là xăng, dầu diesel và than đá. Điểm đáng lưu ý là mức thuế áp dụng đối với Thuế Bảo vệ môi trường đang được xác định dựa trên tác động tiêu cực của các hàng hóa/nhiên liệu này đối với môi trường, chứ chưa trực tiếp dựa trên suất phát thải CO2.

Bảng 1: Chuyển đổi từ mức Thuế Bảo vệ môi trường sang mức thuế dựa trên phát thải CO2

Thuế BVMT

Xăng

Dầu diesel

Than đá

Mức thuế hiện nay*

4,000 VND/l

2,000 VND/l

30,000 VND/t

Thuế các-bon** (USD/tCO2e)

74.86

31.77

0.49

Ghi chú:

* Mức thuế hiện nay dựa trên Nghị quyết số 579/2018/UBTVQH14 ngày 26/9/2018 của Quốc hội về Biểu thuế bảo vệ môi trường

** Hệ số chuyển đổi dựa trên các giá trị mặc định của IPCC2006, tỷ giá áp dụng là 23.520 VND/USD

 

Bộ Tài chính cũng đã hoàn thiện dự thảo Nghị định quy định phí bảo vệ môi trường đối với khí thải để lấy ý kiến nhân dân. Theo dự thảo Nghị định, các khí thải là đối tượng của phí bảo vệ môi trường bao gồm: bụi tổng, NOx (gồm NO2 và NO), SOx và CO. Căn cứ để xác định mức thu là dựa trên kết quả quan trắc tự động của các cơ sở xả khí thải.

Khuyến nghị cho Việt Nam

Thay vì phải trả phí CBAM cho Châu Âu, Việt Nam có thể cân nhắc áp dụng thuế các-bon kết hợp với việc thiết lập và vận hành thị trường các-bon trong nước để giữ lại nguồn thu trong nước nhằm thúc đẩy tiến trình đạt được mục tiêu giảm nhẹ biến đổi khí hậu đã cam kết.

Việc tích hợp nội hàm thuế các-bon vào hệ thống thuế hiện nay như Thuế Bảo vệ môi trường và Phí Bảo vệ môi trường đối với khí thải, và đối thoại với Châu Âu để được công nhận về giá các-bon này, sẽ là giải pháp hiệu quả hơn so với xây dựng một luật thuế các-bon mới.

Để đảm bảo hiệu quả tối ưu, thuế các-bon nên được áp dụng đối với các đối tượng không thuộc các đối tượng phải tham gia vào hệ thống giao dịch hạn ngạch phát thải trong nước. Đồng thời, mức giá sàn bằng với thuế các-bon cần được áp dụng đối với hệ thống giao dịch hạn ngạch này để đảm bảo công bằng về giá các-bon trên thị trường Việt Nam.

Việt Nam có thể cân nhắc bắt đầu với mức thuế các-bon thấp và tăng dần theo thời gian để nhận được sự ủng hộ của người dân và tránh các tác động tiêu cực đến nền kinh tế. Việt Nam có thể cho phép sử dụng tín chỉ các-bon để bù trừ nghĩa vụ thuế nhằm thúc đẩy các hoạt động giảm phát thải khí nhà kính trong nước từ các hoạt động phát triển năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng lượng, xử lý chất thải và trồng rừng, v.v, từ đó có thể thúc đẩy xanh hóa nền kinh tế và đạt được phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Nguyễn Hồng Loan, tổng hợp dựa trên kết quả của Nghiên cứu đánh giá tác động CBAM và khuyến nghị về thuế các-bon cho Việt Nam, 2023

  • Chia sẻ qua viber bài: Nghiên cứu đề xuất áp dụng thuế các-bon tại Việt Nam trong bối cảnh mới
  • Chia sẻ qua reddit bài:Nghiên cứu đề xuất áp dụng thuế các-bon tại Việt Nam trong bối cảnh mới

Tags:

 

danh mục tin tức

Loading...

tin tức liên quan